Quả Nhót chữa ho hen, phong thấp hiệu quả

Quả Nhót thức quả ăn phổ biến ở Việt Nam. Nhót có vị chua, chát, tính bình, tác dụng ngừng hen suyễn, cầm tiêu chảy, tả lỵ, chữa chứng đau họng khó nuốt.

Nhót là loại quả ăn vặt phổ biến và là một vị thuốc có nhiều ứng dụng

Nhót có tên khác là hồ đồi tử, cây lót (Trung Bộ), co lót (dân tộc Thái). Nhót thuộc nhóm cây bụi, độ dài có thể lên đến 7 m, thân và cành thường có gai nhỏ, cành dài và mềm, lá hình bầu dục, mọc so le, mặt trên màu xanh lục, có lấm tấm như hạt bụi, mặt dưới trắng bạc, bóng, có nhiều lông mịn.
Đã Mắt Với Giống Cây Nhót Mỹ Siêu Ngọt Trồng Cảnh – Vườn Kinh Tế Của Bà Con, Nông Dân Phố Thị
Quả nhót hình bầu dục, màu đỏ hồng, ngoài mặt phủ rất nhiều lông trắng hình sao, trong có một hạch cứng. Nhót được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc nước ta, lấy quả để ăn và nấu canh giấm.

Thành phần trong quả nhót

Thành phần của nhót gồm: nước 92%, protid 1,25, acid hữu cơ 2%, glucid 2,1%, cellulose 2,3%, calci 27mg%, phospho 30mg%, sắt 0,2mg%.

Trong quả nhót có nhiều acid hữu cơ, lá nhót chứa tanin, saponozit, polyphenol.

Có quả nhót, bị những bệnh này không cần tới thuốc tây cũng khỏi

Khi sử dụng nhót, cần tránh nhầm lẫn với vị thuốc nhót tây, còn gọi nhót Nhật Bản, hay tỳ bà diệp. Nhót tây mọc hoang và được trồng ở nhiều ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội… Nhót tây cao tới 6 – 8m. Lá mọc so le, hình mác, có răng cưa, dài 12 – 30cm, rộng 3 – 8cm, phía mặt dưới của lá có rất nhiều lông màu xám hay vàng nhạt. Đây là đặc điểm nổi bật để phân biệt với nhót. Lá nhót tây cũng được sử dụng để trị ho, hen.

Một số bài thuốc từ Cây, Quả Nhót

  • Trị ho khó thở: 10 quả nhót xanh, trần bì 10 g, quất 10 quả, cho vào nồi, đổ nước vừa đủ sắc uống ngày một thang chia làm 3 lần.
  • Chữa hen suyễn: Lá nhót sao vàng tán mịn. Mỗi lần uống 4 g, ngày 2 lần sáng, tối, hòa với nước cơm nóng để uống. 15 ngày là một đợt, có thể phải uống nhiều đợt.
  • Trị tiêu chảy, tả lỵ: Lấy 5-7 quả nhót sắc uống, hoặc dùng 40 g rễ cây nhót sắc cùng 20 g rễ cây mơ, công dụng tương tự.
  • Khạc nhổ ra máu: Lá nhót khô 30 g sắc uống cùng 5 lá bồng bồng, bài này cũng chữa hen suyễn.
  • Đau họng, thổ huyết (ói ra máu): Rễ cây nhót 30 g sắc uống.
  • Chữa phong thấp, đau nhức khớp: Rễ cây nhót 120 g, hoàng tửu 60 g, chân giò lợn 50 g, đổ nước vào hầm. Ăn thịt uống nước. Có thể lấy rễ nhót ngâm rượu uống vào bữa cơm một chén con 20-25 ml.
  • Trị lỵ trực khuẩn và bệnh tiêu chảy, viêm đại tràng mạn tính: Lấy 20 – 30g lá nhót tươi hoặc 6 – 12g lá nhót khô, sao vàng, sắc với 400ml nước còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày, trước các bữa ăn 1,5 giờ. Có thể uống liền 1 – 2 tuần đến khi hết các triệu chứng.
    Hoặc dùng dưới dạng bột khô lá nhót, ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 8 – 12g, uống với nước cơm; hoặc phối hợp đồng lượng với bột của vỏ cây đỗ trọng nam. Lưu ý: khi uống cần kiêng các thức ăn tanh, lạnh: cá cua, ốc, ếch…

Lưu ý:

Phụ nữ có thai không sử dụng lá và rễ nhót. Trẻ em cũng nên hạn chế (không nên) ăn nhót. Quả có tính axit cao có thể gây ảnh hưởng đến dạ dày và hệ thống tiêu hóa. Bệnh nhân đau dạ dày, viêm loét dạ dày tá tràng không nên ăn nhiều nhót. Tránh hóc hạt nhót, khá nguy hiểm nếu không cấp cứu kịp thời!

Nhót là loại quả ăn vặt phổ biến và là một vị thuốc có nhiều ứng dụng trong y học cổ truyền.

5/5 - (1 vote)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây