1. Tên khoa học:Amomum vilosum Lour và Amomum longiligulare T. L. Wu
  2. Tên gọi khác: Súc sa mật
  3. Tính vị, quy kinh: Vị cay, tính ấm. Quy vào kinh tỳ, thận, vị
  4. Bộ phận dùng: Quả
  5. Đặc điểm dược liệu: Hình bầu dục hay hình trứng, màu nâu nhạt hay nâu sẫm, có 3 gờ tù. Hạt màu nâu sẫm, cứng nhăn nheo. Mùi thơm, vị hơi cay.
  6. Phân bố vùng miền: Sơn La, Bắc Cạn, Quảng Nam, Đăk Nông.
  7. Thời gian thu hoạch: Tháng 7 – 8.

I. THÔNG TIN CHI TIẾT – SA NHÂN

1. Mô tả thực vật Sa Nhân

Sa Nhân – Cây cao tới 2-3m. Lá xanh thẫm, mặt nhẵn bóng, dài 15-35cm, rộng 4-7cm.Hoa màu trắng đốm tím, mọc thành chùm ở gốc, từ rễ nảy ra một mầm, ngọn mang hoa gần sát mặt đất, mỗi gốc 3-6 chùm hoa, mỗi chùm 4-6 hoa. Quả là 1 nang 3 ngăn, hình trứng, to bằng đầu ngón tay cái. Mặt ngoài vỏ có gai rất đều, không có cái cao cái thấp, kẽ gai cũng đều nhau, bóp mạnh sẽ vỡ thành 3 mảnh. Hạt dính theo lối đính phôi trung trụ.

cây sa nhân
cây sa nhân 

2. Phân bố

  • Thế giới: Camphuchia, Lào, Thái Lan, Ấn Độ.
  • Việt Nam: trồng nhiều ở tỉnh miền núi nước ta, miền Bắc, miền Trung.

3. Bộ phận dùng

  • Quả

4. Thu hái, chế biến và bảo quản

  • Thu hoạch vào tháng 7-8.
  • Chế biến: Thu hoạch vào mùa hạ, mùa thu, lúc trời khô ráo, hái lấy quả chín, để cả vỏ, tãi phơi ngay cho thật khô; nếu không gặp nắng phải sấy kịp thời; tốt nhất ngày phơi, đêm sấy, khoảng 4 – 5 ngày thì khô.
    Quả Sa nhân khô kiệt đem bóc bỏ vỏ, lấy hạt đem phơi hoặc sấy nhẹ (40 – 45oC) đến khô.
  • Bảo quản: nơi khô ráo, thoáng mát, tránh mối mọt.

5. Mô tả dược liệu Sa Nhân

Sa nhân thuộc họ gừng, có nhiều loại, Đông y thường sử dụng chủ yếu là hai loài sa nhân tím và sa nhân trắng vì có giá trị dược liệu cao. Cây mọc hoang ở các tỉnh trung du và miền núi, thường gặp thành vạt lớn ở chỗ ẩm mát, nhiều mùn như thung lũng, ven suối, bờ nương rẫy. Đặc điểm chung là loại cây thảo, sống lâu năm. Lá mọc so le thành hai dãy, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt, lưỡi hẹ mỏng, nhìn qua gần giống cây riềng. Thân rễ mảnh, mọc bò lan, các rễ đan vào nhau thành mạng lưới rất chắc. Mùa ra hoa khoảng tháng 5 – 6, quả hình cầu hoặc hình bầu dục, có gai mềm, hạt hình nhiều cạnh, mùa quả tháng 7 – 8.

sa nhân
Quả dược liệu sa nhân

Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là quả thu hái vào mùa hè thu. Quả sa nhân chín trong thời gian ngắn khoảng 20 ngày, quả vừa chín màu đỏ hay tím, nhân hạt to mẩy là những quả bóp thấy cay nhiều và nóng, khi tươi hơi chua. Nếu hái quá muộn, chỉ cần để quá 5 – 7 ngày, quả bóc ra đã mềm, nhấm thấy ngọt, chất cay đã hết, đó là sa nhân đường, kém giá trị hơn vì ít tinh dầu, khó bảo quản, dễ bị ẩm mốc. Nhưng nếu hái sớm quá, quả còn non, bóc ra hạt vẫn còn non trắng hay hơi vàng, nhấm thấy cay nhưng không chua, cũng kém giá trị. Để đạt chất lượng dược liệu quả sa nhân hái đúng tuổi phải đựơc chế biến ngay, tránh quả bị thối hỏng, khi hái để cả chùm quả, hoặc phơi sấy trong 5 ngày đêm là được.

  • Amomum villosum Lour.: Hình bầu dục hay hình trứng, dài 1,5 – 2 cm, đường kính 1 – 1,5 cm, màu nâu nhạt hay nâu sẫm, có 3 gờ tù (vách ngăn); mỗi ngăn có chứa 7 – 26 hạt. Bên ngoài mỗi hạt có một màng mỏng, màu trắng mờ (áo hạt) chụm thành một khối. Hạt màu nâu sẫm, cứng nhăn nheo, đường kính 2 – 3 cm, dính theo lối đính noãn trụ giữa. Cắt ngang thấy vỏ hạt màu nâu sẫm, hình khối nhiều mặt, ngoại nhũ màu trắng, nội nhũ màu trắng ngà. Mùi thơm, vị hơi cay.
  • Hình bầu dục hay hình trứng dài, có 3 gờ tù, dài 1,5 – 2 cm, đường kính 0,8 – 1,2 cm. Bên ngoài mỗi quả có gờ phân nhánh mịn như tuyết, có sẹo của cuống hoa để lại. Hạt màu nâu sẫm, cứng. Khối lượng các hạt tương đối nhỏ, mỗi quả có 3 – 24 hạt, đường kính 1,5 – 2 mm. Mùi thơm và vị hơi nhạt.

6. Thành phần hóa học Sa Nhân

Trong sa nhân có khoảng 2-3% tinh dầu. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là d-borneola (19%), d-camphor (33%), acetat bornyla (26,5%), l-limonen (7%), phelandren (2,3%), paraametoxyethylxinamat (1%), pinen (1,8%), linalola, nerolidola… Saponin (0,69%).

7. Tác dụng – Công dụng Sa Nhân

  • Tác dụng kích thích và giúp tiêu hóa thường dùng làm gia vị và chế rượu mùi.
  • Trong trường hợp đau bụng, đầy bụng, ăn không tiêu, tả lỵ.

8. Cách dùng và liều dùng.

  • Liều dùng: Dùng uống: 3 – 6g. Thuốc sắc hoặc hoàn tán

9. Lưu ý, kiêng kị (nếu có)

  • Dùng thuốc sắc cho vào sau vì sắc lâu mất tác dụng của thuốc.
  • Trường hợp hư nhiệt không dùng.

10. Một số bài thuốc từ cây Dược liệu Sa Nhân

  1. Răng đau nhức: ngậm sa nhân
  2. Bài thuốc chữa ăn uống không tiêu, nôn mửa, bụng đầy, đau (hương sa chỉ truật hoàn): sa nhân 4g, mộc hương 6g, chỉ thực 6g, bạch truật 4g, các vị tán nhỏ, dùng nước sắc bạc hà nấu với gạo làm hồ viên thành viên, mỗi viên nặng 0,25g, ngày uống 2 hay 3 viên.
  3. Thai nghén hay nôn: Sa nhân 4g, rễ gai 8g, ích mẫu 6g, hương phụ 4g, mầm cây mía 10g. Tất cả rửa sạch thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần. 5 ngày một liệu trình, tái khám lại.
  4. Hỗ trợ viêm loét dạ dày mạn tính: Sa nhân 6g; dạ dày lợn 1 cái, dạ dày rửa sạch, thái chỉ, cùng với sa nhân nấu thành món canh; ăn dạ dày và uống nước canh. Dùng 10 ngày một liệu trình.
  5. Chữa tiêu chảy (bụng sôi, lạnh, chướng đau bụng ở vùng hạ vị, phân sống, kém ăn, chậm tiêu, tay chân lạnh): Sa nhân, nhục quế, can khương, vỏ rụt, vỏ quýt mỗi vị 8g; bố chính sâm, tục đoạn, củ mài sao, phá cố chỉ mỗi vị 12g. Tất cả tán bột, mỗi ngày uống 20g.
  6. Hỗ trợ viêm đại tràng mạn tính: Sa nhân 1g (tán bột), mộc hương 1g (tán bột), bột sắn dây 30g, đường cát lượng vừa đủ. Sa nhân, mộc hương, sắn dây thêm nước quấy đều, cho thêm đường nấu cháo ăn. Ngày ăn 2 lần.

Chú ý: Người âm hư nội nhiệt không nên dùng.

II. KIỂM NGHIỆM DƯỢC LIỆU

1. Ðịnh tính

  • A. Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại, bột dược liệu phát quang màu tím nâu.
  • B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng.

Bản mỏng: Silica gel G.

Dung môi khai triển: Cyclohexan – ethyl acetat  (22 : 1).

Dung dịch thử: Hoà tan tinh dầu thu được trong mục định lượng trong ethanol 96% (TT) để được dung dịch có chứa 20 µl/ml.

Dung dịch đối chiếu: Lấy Sa nhân (mẫu chuẩn) cất lấy tinh dầu và chuẩn bị như dung dịch thử hoặc/và hoà tan bornyl acetat trong ethanol 96% (TT) để được dung dịch có chứa 10 µl/ml.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 1 ml mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai xong, để khô bản mỏng ở nhiệt độ phòng, phun lên bản mỏng dung dịch vanilin 5% trong acid sulfuric. Sấy bản mỏng ở 105 °C  đến khi các vết hiện rõ. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết có cùng màu và giá trị  Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu hoặc/và phải có vết có cùng màu đỏ tía và giá trị Rf với vết bornyl acetat trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

2. Ðịnh lượng

Tiến hành theo phương pháp định lượng tinh dầu trong dược liệu (Phụ lục 12.7), dùng 20 g bột dược liệu và 150 ml nước, cất trong 4 giờ. Dược liệu phải chứa ít nhất 1,5 % tinh dầu tính theo dược liệu khô kiệt

3. Tiêu chuẩn đánh giá khác:

  • Độ ẩm: Không quá 14%.
  • Tro toàn phần: Không quá 7%.
  • Tạp chất
  • Tỷ lệ hạt rời: Không quá 10%.
  • Tạp chất hữu cơ: Không quá 1%.
  • Tỷ lệ hạt non: Không quá 2%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  • Bộ Y tế, Dược điển Việt Nam IV, 2010
  • Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, 2006.
  • Nhiều tác giả, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (tập 1), Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây