1. Tên khoa học:Aconitum fortunei  Hemsl – Aconitum carmichaeli Debx
  2. Tên gọi khác: Xuyên ô, thảo ô
  3. Tính vị, quy kinh: Vị cay, ngọt; tính đại nhiệt, có độc. Quy kinh: tâm, thận, tỳ
  4. Bộ phận dùng: Rễ củ
  5. Đặc điểm dược liệu: Rễ củ hình củ ấu, phía trên củ có vết tích của gốc thân. Mặt ngoài màu nâu, có nhiều nếp nhăn dọc và vết tích của rễ con đã cắt ra. Cứng chắc, rắn và dai, khó bẻ. Vị nhạt sau hơi chát và hơi tê lưỡi.
  6. Phân bố vùng miền: Châu Âu, TQ, Việt Nam (Hà Giang, Lào Cai)
  7. Thời gian thu hoạch: Tháng 9-11

I. THÔNG TIN CHI TIẾT

1. Mô tả thực vật cây Ô Đầu

Cây ô đầu là cây thảo sống lâu năm, cao chừng 0,6 – 1m. Rễ phát triển thành củ mập, hình con quay, có củ mẹ, củ con. Rễ cái to mang nhiều rễ nhỏ (nên có tên là phụ tử). Củ hái ở những cây trồng có thể có đường kính 5cm. Thân đứng, hình trụ, ít phân nhánh.  Lá mọc so le, có gân hình chân vịt, lá của cây có hình tim tròn, có răng cưa to, phiến lá rộng 5 – 12cm, xẻ thành 3 – 5 thùy to không đều, 2 thùy 2 bên lại xẻ làm 2, thùy giữa lại xẻ thành 3 thùy con nữa. Mép các thùy đều có răng cưa thô, to. Hai mặt lá có lông ngắn, mặt trên lục bóng, mặt dưới nhạt. Cụm hoa mọc ở ngon thân thành chùm, hoa to, dài 10 – 20cm, hoa màu xanh lam mặc sít nhau, bao hoa gồm 5 lá đài, lá đài trên thẳng và cong hình mũ chụp kín tràng hoa đã tiêu giảm, nhị nhiều, bầu có 3 ô chứa nhiều lá noãn. Hoa nở vào tháng 6 – 7. Quả thu hoạch vào tháng 7 – 8. Quả gồm 5 dại mỏng, hạt nhiều, trên mặt có nhiều vảy nhỏ.

ô đầu
Cây Ô Đầu

Theo wiki:

Củ Ấu tàu, ấu tẩu, hay còn gọi là củ ấu tàu, là rễ củ của cây Ô đầu, tên khoa học là Aconitum fortunei, thuộc họ mao lương Ranunculaceae được xếp vào danh sách thuốc độc bảng A, nhưng cũng là một vị thuốc quý đứng thứ 4 trong “tứ đại danh dược” (sâm, nhung, quế, phụ) sau khi được bào chế cẩn thận.

2. Phân bố

  • Thế giới: Phân bố rải rác khắp vùng ôn đới ấm Bắc bán cầu. Ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam.
  • Việt Nam: Cây được trồng ở khu vực Sa Pa  hiện nay (ở Bắc Hà – Lào Cai và Sìn Hồ – Lai Châu trước kía), Hà Giang. Cây mọc hoang ở Lào Cai, Hà Giang, NGhĩa Lộ

Ô đầu là cây vùng ôn đới ẩm, thích nghi với điều kiện khí hậu ẩm mát của vùng nhiệt đới núi cao như Sa Pa, Bắc Hà, Sìn Hồ, Đồng Văn, Quản Bạ. Cây ưa sàng, khi còn nhỏ là cây chịu bóng

3. Bộ phận dùng

Rễ củ mẹ đã phơi hay sấy khô của cây ô đầu

củ ô đầu
Củ cây ô đầu

4. Thu hái, chế biến và bảo quản Ô Đầu

  • Thu hái: củ thu hái vào cuối tháng 6, đầu tháng 7.
  • Chế biến: tùy theo yêu cầu muốn có ô đầu, phụ tử hay hắc phụ lựa chọn những củ và chế biến khác nhau như sau:
  1. Ô đầu là rễ củ mẹ đã phơi hay sấy khô của cây ô đầu chọn những củ mẹ, cắt bỏ rễ con, rửa sạch đất hay phơi khô. Thuốc rất độc.
  2. Diêm phụ (phụ tử muối, sinh phụ tử, phụ tử sống). Chọn những rễ nhanh to, cắt bỏ rễ con, rửa sạch cho vào vại, thêm vào đó magnesi clorua, muối ăn và nước: 100kg phụ tử: 40kg magnesi clorua: 30kg muối: 60l nước. Ngâm trong 10 ngày lấy ra phơi khô, phơi xong lại cho vào vại thêm nước, muối và magnesi clorua lúc nào cũng ngâm xâm xấp các củ. Sau đó ngày lại lấy ra phơi, tối lại ngâm. Thỉnh thoảng lại thêm muối, magnesi clorua để duy trì nồng độ cũ. Cuối cùng phơi nắng để muối thấm vào giữa các củ, mặt ngoài thấy có muối kết tinh là được. Trước khi dùng, thái lát mỏng, rửa nước đến khi hết vị cay tê, rồi phơi hay sấy khô
  3. Hắc phụ: Chọn những nhánh rễ con, to trung bình, rửa sạch đất cát, cho vào vại có chứa magnesi ngâm vài ngày, thông thường cứ 100kg phụ tử sống ngâm 40kg magnesi clorua và 20kg nước. Sau đó cứ để vậy, đun sôi 2 – 3 phút, lấy ra rửa sạch, để nguyên cả vỏ, thái thành từng miếng mỏng chừng 5mm rồi lại ngâm vào nước magnesi clorua nữa, cuối cùng thêm đường đỏ và dầu hạt cải mà tẩm và sao cho đến khi có màu nước chè đặc, cuối cùng lại dùng nước rửa đến hết vị cay tê là được, đem phơi khô hoặc sấy khô.
  4. Bạch phụ: chọn những rễ nhánh con, nhỏ, rửa sạch, cho vào ngâm vại nước có magnesi clorua trong vài ngày, sau đó đun sôi cho đến khi chín đến giữa củ, lấy ra bóc vỏ đen, hái thành từng miếng mỏng 3mm, rồi cũng đem rửa cho đến khi hết vị cay, hấp chín, phơi khô, sau đó đem xông hơi diêm sinh, cuối cùng phơi khô là được.
  • Bảo quản: nơi khô ráo, thoáng mát

5. Mô tả dược liệu Ô Đầu

Rễ củ hình củ ấu hay hình con quay, dài 3 – 5 cm, đường kính 1 – 2,5 cm, phía trên củ có vết tích của gốc thân. Mặt ngoài màu nâu hay nâu đen, có nhiều nếp nhăn dọc và vết tích của rễ con đã cắt ra. Cứng chắc, rắn và dai, khó bẻ, vết cắt màu nâu xám nhạt. Vị nhạt sau hơi chát và hơi tê lưỡi.

6. Thành phần hóa học chính.

  • Alcaloid: aconitin ngoài ra còn có benzoyl aconin

7. Công dụng – Tác dụng

  • Tác dụng: hồi dương cứu nghịch, khử phong hàn
  • Công dụng:
  1. Chữa ho, sưng đau
  2. Chữa tay chân nhức mỏi, đau các khớp,chữa bán thân bất toại, chân tay co quắp, mụn nhọt vỡ lâu không lành miếng
  3. Dùng trong trường hợp mạch gần như không có, mồ hôi ra nhiều, vong dương, chân tay quờ quạng, phong hàn thấp tý thận dươc bất túc cước khí, thủy thũng

9. Cách dùng và liều dùng dược liệu ô đầu

Dùng ngoài xoa bóp dưới dạng thuốc ngâm rượu, không được uống.

Dạng cồn thuốc dùng:

  • Người lớn mỗi lần dùng 5 – 10 giọt, liều dùng tối đa trong ngày là 40 giọt
  • Trẻ em từ 30 tháng đến 15 tuổi dùng liều 5 – 10 giọt / ngày
  • Liều dùng tối đa cho một lần là 0.05 và 0.15g / 24h

10.Lưu ý, kiêng kị (nếu có)

Phụ nữ có thai, trẻ em không được dùng.

11. Một số bài thuốc từ cây Dược liệu Ô Đầu

  • Bài 1: Chữa đau xương, sai khớp

Ô đầu, nghệ rừng, nhân hạt gấc, mật gấu, mật trăn, huyết lình, tất cả ngâm rượu dùng xoa bóp ngày 2 lần. Không được uống

  • Bài 2: Chữa trúng hàn, hôm mê, ngộ lạnh nôn tháo

Phụ tử sống (sinh phụ tử) và gừng lùi chín, mỗi vị 20g, sắc uống làm nhiều lần (hành giàn trân nhu)

II. KIỂM NGHIỆM DƯỢC LIỆU

1. Đặc điểm bột dược liệu

Mảnh bần màu nâu, thành dày. Mảnh mô mềm gồm tế bào hình nhiều cạnh, thành mỏng, trong chứa các hạt tinh bột. Các hạt tinh bột nhỏ, hình đĩa, hình chuông hay hình đa giác, đường kính 2 – 25 m, đứng riêng lẻ hay kép đôi, kép ba. Mảnh mạch mạng, mạch vạch. Tế bào mô cứng thành dày. Rải rác có tinh thể calci oxalat hình kim hay hình khối. Sợi dài.

2. Định tính

  • A. Cho khoảng 2 g bột dược liệu vào một bình nón có dung tích 50 ml, có nút mài, thấm ẩm bằng amoniac đậm đặc (TT). Sau 10 phút thêm 20 ml ether (TT), lắc đều, nút kín và để yên 30 phút, thỉnh thoảng lắc. Gạn lấy lớp ether, làm khan bằng natri sufat khan (TT), lọc và bốc hơi trên cách thuỷ tới khô. Hoà tan cắn với 5 ml dung dịch acid sulfuric loãng (TT).

Dung dịch chiết này để làm các phản ứng sau:

Lấy 1 ml dịch chiết, thêm 2 giọt thuốc thử Mayer (TT) sẽ xuất hiện tủa trắng.

Lấy 1 ml dịch chiết, thêm 2 giọt thuốc thử Bouchardat (TT) sẽ xuất hiện tủa nâu.

Lấy 1 ml dịch chiết, thêm 2 giọt thuốc thử Dragendorff  (TT) sẽ xuất hiện tủa đỏ cam.

Lấy 2 ml dịch chiết đem cách thuỷ sôi trong 5 phút rồi cho vào vài tinh thể resorcin (TT), tiếp tục đun cách thuỷ trong 20 phút sẽ xuất hiện màu đỏ với huỳnh quang xanh.

  • B. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4).

Bản mỏng: Silica gel G

Dung môi khai triển: Cloroform – methanol (9: 1).

Dung dịch thử: Lấy 2 g bột dược liệu, thấm ẩm bằng amoniac đậm đặc (TT), để yên 20 phút, chiết bằng cloroform (TT) trong bình Soxhlet đến kiệt alcaloid. Cất thu hồi dung môi. Cắn còn lại hoà tan trong 2 ml ethanol (TT), được dung dịch thử.

Dung dịch đối chiếu: Hoà tan aconitin chuẩn trong ethanol (TT) để được dung dịch có nồng độ 1 mg/ml.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 20 ml mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra, để bay hết hơi dung môi ở nhiệt độ phòng. Phun thuốc thử Dragendorff (TT). Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có vết cùng màu và cùng giá trị Rf với vết aconitin của dung dịch đối chiếu.

3. Định lượng

Cân chính xác khoảng 10g bột dược liệu đã xác định độ ẩm, cho vào bình nón có nút mài dung tích 250 ml. Thêm 50 ml hỗn hợp ether – cloroform (3: 1) và 4 ml amoniac đậm đặc (TT). Đậy nút, lắc kỹ, để qua đêm, gạn, lấy dịch lọc. Cho vào bã 50 ml hỗn hợp ether – cloroform (3: 1), lắc kỹ, để 1 giờ, lọc, thu dịch lọc. Rửa bã 4 lần, mỗi lần với 15 ml  hỗn hợp ether – cloroform (3: 1), thu dịch rửa. Gộp dịch lọc và dịch rửa. Bốc hơi cách thuỷ ở nhiệt độ 50 – 60 oC. Hoà tan cắn bằng 5 ml ethanol (TT). Thêm chính xác 15 ml dung dịch acid sulfuric 0,02 N (CĐ) và 15 ml nước cất mới đun sôi để nguội, 3 giọt đỏ methyl (TT). Chuẩn độ bằng dung dịch natri hydroxyd 0,02 N (CĐ) đến khi xuất hiện màu vàng.

1 ml dung dịch acid sulfuric 0,02 N tương đương với 12,9 mg alcaloid toàn phần tính theo aconitin (C34H47O11N).

Hàm lượng phần trăm alcaloid toàn phần (X%) của dược liệu khô kiệt tính theo công thức:

p: Khối lượng dược liệu khô kiệt (g).

n: Số ml dung dịch natri hydroxyd 0,02 N đã dùng.

Dược liệu phải chứa ít nhất 0,6% alcaloid toàn phần tính theo aconitin (C34H47O11N).

4.Tiêu chuẩn đánh giá khác

  • Độ ẩm: Không quá 13%
  • Tro toàn phần: Không quá 10%
  • Tạp chất: Không quá 1%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  • Bộ y tế, Giáo trình Dược học cổ truyền, Nhà xuất bản y học, 2006
  • Bộ Y tế, Dược điển Việt Nam IV, 2010
  • Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, 2006
  • Viện Dược Liệu, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I và II, Nhà xuất bản Khoa học và kĩ thuật, 2006

update:

Vị thuốc Ô Đầu – Ấu Tàu

Trong y học cổ truyền, ô đầu được coi là một trong số 4 vị thuốc quý: sâm, nhung, quế, phụ (tức phụ tử là dạng chế biến của ô đầu).

Ô đầu (Aconitum fortunei Hemsl.) thuộc họ mao hương (Ranunculaceae), tên khác là ấu tàu, thảo ô, xuyên ô, co u tàu (Thái), ú tàu (Tày), cố y (Mông). Cây mọc hoang và được trồng nhiều ở các tỉnh biên giới nước ta.

Trong y học cổ truyền, ô đầu được coi là một trong số 4 vị thuốc quý: sâm, nhung, quế, phụ (tức phụ tử là dạng chế biến của ô đầu). Dạng sống ô đầu và dạng chín phụ tử đều được sử dụng phổ biến. Về dược tính: ô đầu có vị nhạt, the, về sau gây cảm giác kiến bò, được dùng chữa bán thân bất toại, chân tay tê mỏi, gân cơ đau nhức, co quắp. Chỉ dùng rượu ngâm ô đầu với tỉ lệ 10% để xoa bóp ngoài. Dùng riêng hoặc phối hợp ô đầu với nhiều vị thuốc khác như nghệ trắng, mật gấu, nhân hạt gấc, mật trăn, huyết lình.

Ô đầu là một vị thuốc rất độc thuộc bảng A.

Để giảm bớt độc tính, người ta đã chế biến ô đầu (dạng sống) thành phụ tử (thuốc chín). Phụ tử được xếp vào bảng B với liều gây độc là 25-100g. Phụ tử lại được chế giảm độc thêm nữa dưới dạng diêm phụ tử, hắc phụ tử và bạch phụ tử.

Phụ tử có vị cay, hơi ngọt, tính nóng, có thể dùng uống để “hồi dương” trong những trường hợp cấp cứu như mạch gần như không có, mồ hôi ra nhiều, chân tay quờ quạng, phong hàn thấp tý, thận dương hư bất túc, cước khí, thủy thũng. Tuy độ độc có giảm nhưng những người giàu kinh nghiệm chữa bệnh vẫn phải phối hợp với các vị thuốc khác, đặc biệt là cam thảo và gừng sống, sắc kỹ, gạn lấy nước rồi uống. Có người còn nấu lại phụ tử nhiều lần với đậu đen hoặc ngâm nước vôi hoặc nước gạo đặc thật lâu rồi mới dùng.

Xưa nay, người dân ở vùng núi cao coi ô đầu là một vị thuốc quý. Họ cho rằng người già dùng ô đầu thì nâng cao được thể lực, bớt đau mỏi, ăn ngủ tốt; giới trung niên thì tăng cường khả năng sinh lý, gân xương chắc khỏe. Dạng dùng thông thường là rượu ngâm uống hằng ngày. Phụ nữ sau khi đẻ dùng ô đầu nấu cháo sẽ chóng lại sức, lao động được ngay. Đôi khi dạng cồn xoa bóp cũng được sử dụng.

Nhiều vụ ngộ độc vẫn xảy ra, thường là do uống rượu ngâm ô đầu. Người bị ngộ độc lúc đầu thấy cảm giác tê buồn ở lưỡi và niêm mạc miệng, rồi ngứa cổ và ho, sau đó nôn mửa, chân tay lạnh, toát mồ hôi, tim đập nhanh, nhỏ không đều, đại tiểu tiện ra quần, loạn hô hấp, có khi bất tỉnh. Nếu nặng thì thân nhiệt hạ thấp, mạch đập chậm, người xỉu đi, cuối cùng tử vong vì ngạt thở.

Mọi người cần chú ý hết sức khi sử dụng Ô Đầu trong chữa bệnh. Hay bồi bổ sứ khỏe bằng dược liệu Ô Đầu !