1. Tên khoa học: Fructus Schisandrae
  2. Tên gọi khác: bắc ngũ vị tử, ngũ vị tử hoa nam
  3. Tính vị, quy kinh: chua, mặn, ấm. Quy vào kinh phế, thận.
  4. Bộ phận dùng: quả
  5. Đặc điểm sản phẩm:

Mô tả dược liệu Ngũ Vị Tử

Ngũ vị tử dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh, có tên gọi là Ngũ vị tử vì thuốc có đủ 5 vị, còn có tên là Ngũ mai tử.

ngũ vị tử
Cây ngũ vị tử

Ngũ vị tử là quả chín phơi hay sấy khô của cây bắc Ngũ vị tử có tên thực vật là Schizandra chinensis Baill hoặc của cây Nam Ngũ vị tử có tên S.sphenưnthera Rehd. Et Will.

Bắc Ngũ vị tử là loại chính phẩm thuộc họ Ngũ vị ( Schizandraceae). Ngũ vị tử hiện còn phải nhập của Trung quốc.

ngũ vị tử
ngũ vị tử

Ngũ vị Bắc: Quả hình cầu không đều hoặc hình cầu dẹt. Mặt ngoài màu đỏ, đỏ tía hoặc đỏ thẫm, nhăn nheo, có dầu, thịt quả mềm. Có 1-2 hạt hình thận, mặt ngoài màu vàng nâu, sáng bóng. Vỏ hạt mỏng, giòn. Thịt quả mùi nhẹ, vị chua. Sau khi đập vở, hạt có mùi thơm. Vị cay, hơi đắng.

Ngũ vị Hoa nam: Quả tương đối nhỏ, mặt ngoài màu đỏ nâu đến nâu, khô héo, nhăn nheo. Thịt quả thường dính chặt vào hạt.

Phân bố vùng miền:

  • Thế giới: phân bố chủ yếu ở vùng Đông Á, Nam và Đông Nam Á, Trung Quốc
  • Việt Nam: Lào Cai, Lai Châu,

Thời gian thu hoạch:

  • mùa thu

Thành phần chủ yếu:

  • Sesquicarene, beta-bisabolene, beta-chamigrene, a – ylangene, schizandrin (Ngũ vị tử tố), pseudo-gamma-schizandrin, desoxyschysandrin, schizandrol, citral, stigmasterol, tinh dầu, acid hữu cơ, vitamin C, vitamin E.

Bài thuốc với Ngũ Vị Tử

Trị kiết lị:

  • dùng thuốc sống 0,25 – 2g, 90% oticture Ngũ vị tử 3 – 4 giọt, hoặc cao lỏng thuốc 0,5g. Trị kiết lî trẻ em có kết quả tốt ( Báo cáo của Vương Bản Tường, Tạp chí Y dược Thiên tân 1965, 4:338).

Trị hội chứng Ménière:

  • dùng Ngũ vị tử, Toan táo nhân, Đương qui, Quế viên làm thuốc thang sắc uống. Trị 20 ca phần lớn uống 4 – 5 thang khỏi bệnh ( Báo cáo của Chu Quế Phúc, Tạp chí Tai mũi họng Trung hoa 1960,1:25).

Trị viêm gan mạn tính:

  • dùng Ngũ vị tử, Linh chi, Đơn sâm, Sài hồ luyện mật làm hoàn ( tác giả không nói rõ liều lượng), mỗi lần uống 1 hoàn, sau khi ăn 30 phút nuốt với nước sôi nguội, một liệu trình 30 ngày. Trị 34 ca trong 3 liệu trình, có kết quả 33 ca ( Báo cáo của Vương gia Quân dùng viên Ngũ linh đơn trị viêm gan mạn có kết quả, Tạp chí Trung y Thiểm tây 1988,3:106).

Trị háo suyễn nặng:

  • Ngũ vị tử 30 – 50g, Địa long 9 -12g, Ngư tinh thảo 30 – 80g, ngâm nước 2 – 4 giờ, sau đó sắc đun nhỏ lửa ( văn hỏa), sắc 2 lần còn được khoảng 250ml, chia uống 2 lần: chiều 4 giờ và tối 8 giờ. Trị 50 ca, theo dõi từ 7 tháng đến 2 năm, khỏi 1 ca, hết cơn lâm sàng 47 ca, có kết quả 2 ca ( Báo cáo của Tống chí Kỳ và cộng sự về bài Tân tam vị trị 50 ca suyễn nặng, Tạp chí Trung y 1988,9:47).

Trị chứng hư nhược ra nhiều mồ hôi ( đạo hãn, tự hãn):

  • Bá tử nhân hoàn: Bá tử nhân, Bán hạ khúc đều 60g, Mẫu lệ, Nhân sâm, Ma hoàng căn, Bạch truật, Ngũ vị tử đều 30g tán bột mịn trộn đều làm hoàn hoặc uống thuốc tán, mỗi lần uống 4 – 8g, ngày 2 lần.

Trị ho suyễn do phế khí âm hư, phế thận âm hư do cảm hàn

  • Ngũ vị tử thang: Đảng sâm, Mạch đông, Tang phiêu tiêu đều 30g, Ngũ vị tử 5g, sắc nước uống.
  • Mạch vị Đại hoàng hoàn: Sinh địa 16g, Hoài sơn 12g, Sơn thù 10g, Đơn bì, Bạch linh, Trạch tả đều 12g, Mạch môn 12g, Ngũ vị 4g. Trị chứng ho suyễn lâu ngày do phế thận âm hư, ho ra máu, lao phổi. Bài này cũng gọi là Bát tiên trường thọ hoàn ( Sách Y cấp) hay có tên Tiếp tục vô âm phương ( Hải thượng y tôn tâm lĩnh).
  • Tiểu thanh long thang ( Thương hàn luận): Ma hoàng 8g, Quế chi 6g, Bán hạ 8g, Tế tân 4g, Bạch thược 12g, Can khương 8g, Chích thảo 6g, Ngũ vị tử 4g, sắc uống ấm chia 3 lần trong ngày. Trị chứng ho do cảm hàn.
  • Ngũ vị tử 80g, Túc xác tẩm với đường sao qua 20g, 2 vị tán bột mịn luyện với kẹo Mạch nha viên bằng quả táo, mỗi lần ngậm 1 viên ( Sách Vệ sinh gia bảo). Trị ho lâu ngày.
  • Ngũ vị tử, Bạch phàn lượng bằng nhau đều tán bột mịn trộn đều, mỗi lần uống 12g, lấy phổi lợn nướng chín chấm bột ăn với nước nóng ( Phổ tế phương). Trị ho có đờm gây khó thở.

Trị thận hư, hoạt tinh, liệt dương:

  • Tang phiêu tiêu hoàn: Tang phiêu tiêu, Long cốt, Phụ tử đều 10g, Ngũ vị tử 6g, sắc nước uống hoặc làm hoàn uống.
  • Ngũ vị tử 600g tán bột mịn, mỗi lần uống 4g, ngày 3 lần. Kiêng thịt lợn, cá, tỏi, giấm. Uống hết đơn thì khỏe. Trị liệt dương ( theo Thiên kim phương).

Trị chứng cảm nắng, mùa hè ra mồ hôi nhiều gây cương khí âm hư, mệt khát nước: dùng bài:

  • Sinh mạch tán ( Nội ngoại thương biện hoặc luận) gồm: Nhân sâm, Mạch môn đều 10g, Ngũ vị 5g, sắc uống. Hiện các chuyên gia tim mạch của Trung quốc đã nghiên cứu dùng bài thuốc này trị bệnh tim mạch như: nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực, suy tim, . có kết quả ( có tác giả dùng dạng thuốc chích hoặc truyền tĩnh mạch).

Trị tiêu chảy do tỳ thận hư hàn ( Ngũ canh tả): dùng bài:

  • Tứ thần hoàn ( Chứng trị chuẩn thằng): Bổ cốt chỉ ( Phá cố chỉ) 16g, Nhục đậu khấu 8g, Ngũ vị tử 6 – 8g, Ngô thù du 4g, theo tỷ lệ tán bột mịn trộn với nước sắc gừng tươi và Đại táo thêm ít bột mà làm hoàn. Mỗi lần uống 6 – 12g với nước muối nhạt ấm trước lúc tối đi ngủ. Nhiều tác giả dùng bài thuốc này trị lao ruột hoặc viêm đại tràng mạn có hội chứng tỳ thận hư hàn có kết quả.

Liều lượng dùng và chú ý:

  • Cho vào thuốc sắc 2 – 6g, dùng bột: 1 – 3g/lần.
  • Độc tính: Liều độc cho uống ở chuột là khoảng 10 – 15g/kg. Biểu hiện độ độc quá liều là hoảng hốt, buồn ngủ hoặc khó thở.

 

 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây