Dược liệu: Mạch Môn Đông

  1. Tên khác: Mạch môn – Cây lan tiên – Duyên giới thảo
  2. Tên khoa học: Ophiopogon Japonicus Ker-Gawl
  3. Họ: Thiên môn đông (Asparagaceae)
  4. Tính vị qui kinh: Vị ngọt, hơi đắng, hơi hàn, qui kinh Tỳ vị tâm.

Mạch Môn Đông còn có tên là Thốn đông, Đại mạch đông, cây Lan tiên, được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh với tên Mạch môn, là rễ, củ phơi hay sấy khô ( Radix Ophiopogoni) của cây Mạch môn đông ( Ophiopogon Japonicus Ker – Gawl) thuộc họ Hành tỏi ( Liliaceae).

mạch môn đông
mạch môn đông

Mạch môn đông là một loại cỏ sống lâu năm, cao 10 – 40cm, rễ chùm, trên rễ có những chỗ phát triển thành củ mẫm. Lá mọc từ gốc, hẹp dài, như lá lúa mạch dài 15 – 40cm, rộng 1 – 4mm, phía cuống hơi có bẹ, mép lá hơi có răng cưa. Cán mang hoa dài 10 – 20cm, hoa màu xanh nhạt, cuống 3 – 5mm, tụ thành 1 – 3 hoa ở kẽ các lá bắc trắng nhạt. Quả mọng màu tím đen nhạt, đường kính 6mm, có 1 – 2 hạt.

Mạch môn đông
Củ Mạch Môn Đông

Thường hái vào tháng 6 – 7 ở những cây đã được 2 – 3 năm. Chọn những củ già, cắt bỏ sạch rễ con, rửa sạch đất, củ to trên 6mm bổ làm đôi, củ nhỏ để nguyên phơi khô tước bỏ lõi trước khi dùng. Có khi hái về, dùng móng tay rạch củ, tước bỏ lõi, rang với gạo cho đến khi gạo có màu vàng nhạt, bỏ gạo lấy mạch môn mà dùng. Củ mạch môn hình thoi, màu vàng nhạt, hơi trong, dài 10 – 15mm. Mùi đặc biệt, vị ngọt

Thành phần chủ yếu:

  • Ophiopogonin, ruscogennin, ­ – sitostorol, stigmastrol.

Tác dụng dược lý:

  • Thuốc có tác dụng tăng huyết lượng động mạch vành, bảo vệ bệnh thiếu máu cơ tim, cải thiện lực co bóp cơ tim và chống rối loạn nhịp tim, trên thực nghiệm, thuốc còn có tác dụng an thần.
  • Trên thực nghiệm, tiêm bắp cho thỏ nước sắc Mạch môn: làm tăng đường huyết, nhưng cũng có báo cáo nói hạ đường huyết.
  • Thuốc có tác dụng ức chế mạnh tụ cầu trắng, trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn thương hàn . ( trích yếu văn kiện nghiên cứu Trung dược, nhà xuất bản Khoa học Trung quốc 9165, trang 301).

Bài thuốc với Mạch Môn Đông

Trị lao phổi, viêm phế quản mạn tính, viêm họng mạn, có hội chứng phế âm hư ho kéo dài, ho khan: có thể phối hợp với Bán hạ, Đảng sâm, dùng bài:

  • Mạch môn đông thang ( Kim quỉ yếu lược): Mạch môn 20g, Bán hạ chế 6g, Đảng sâm 12g, Cam thảo 4g, Cánh mễ 20g, Đại táo 4 quả, sắc uống.
  • Mạch vị Đại hoàng hoàn ( Bát tiên trường thọ hoàn): 8 – 10g x 2 lần/ngày.

Trị bệnh nhiễm thời kỳ hồi phục, đại tiện táo bón, hư nhiệt, phiền khát: gia Sinh địa, Huyền sâm. dùng bài:

Trị suy tim có chứng hư thóat ra mồ hôi nhiều, mạch nhanh huyết áp hạ: (phối hợp Nhân sâm, Ngũ vị tử, dùng bài)

  • Sinh mạch tán ( Nội ngoại thương biện hoặc luận): Mạch môn 16g, Nhân sâm hoặc Đảng sâm ( lượng gấp đôi) 8g, Ngũ vị tử 6g, sắc uống, để bổ khí âm.
  • Trường hợp ra mồ hôi nhiều, bứt rứt khó chịu, dùng bài :Mạch môn 20g, Hoàng kỳ 8g, Đương qui 8g, Ngũ vị tử 4g, Chích thảo 4g, sắc uống.

Trị táo bón do âm hư: dùng bài:

  • Tăng dịch thang: Mạch môn đông 20g, Sinh địa 20g, Huyền sâm 12g, sắc uống.

Trị bệnh động mạch vành:

  • mỗi lần uống thuốc sắc Mạch môn 10ml ( thuốc sống 15g), ngày uống 3 lần, liệu trình 3 – 18 tháng hoặc dùng dịch tiêm Mạch môn tiêm bắp 4ml ( mỗi ống 2ml có 4g thuốc), chia 1 – 2 lần chích, 2 – 4 tháng là một liệu trình, hoặc mỗi ngày tiêm tĩnh mạch dịch tiêm Mạch môn 40ml ( mỗi ống 10ml có 10g thuốc sống), liệu trình 1 tuần. Đã trị 101 ca trong đó uống 50 ca, tỷ lệ kết quả 74%, tiêm bắp 31 ca, tỷ lệ kết quả 83,7%, chích tĩnh mạch 20 ca, tỷ lệ kết quả 80% ( Tổ phòng trị bệnh động mạch vành khoa Nội, Bệnh viện Thử quang thuộc Trung y Học viện Thượng hải, Quan sát thuốc Mạch môn trị bệnh động mạch vành lâm sàng và thực nghiệm, Tạp chí Tân y dược học 1977,5:39).

Chữa bệnh ho,khó thở, ho lâu ngày:

  • Mạch môn đông 16g, bán hạ 8g, đảng sâm 4g, cam thảo 4g, gạo nếp sao vàng 4g, đại táo 4g, nước 600ml. Sắc còn 200ml. Chia làm 3 lần uống trong ngày (đơn thuốc của Trương Trọng Cảnh).

Chú thích: ngoài rễ của cây mạch môn đông, ta còn dùng rễ củ phơi khô của cây tóc tiên Liriope spicata Lour cùng họ. Đó là một loại cỏ sống lâu năm, thân rễ ngắn, dày, rễ chùm, lá hẹp dài mọc từ gốc, dài 30cm, rộng 4 – 7mm cọng mang ho thường ngắn hơn lá, hoa màu hơi tím, hợp thành xim 3 – 5 hoa. Quả mọng, màu xanh tím. Cùng một công dụng nhưng hiệu lực không bằng.

Liều lượng và chú ý lúc dùng:

  • Liều thường dùng: 8 – 30g, dùng cho thuốc thang hoặc cao đơn hoàn tán, dùng cường tim liều cao hơn.
  • Thận trọng lúc dùng thuốc cho bệnh nhân tiêu chảy.